Tue, 07 / 2019 11:02 am | helios

Phân tích tác phẩm vợ chồng a phủ của Tô Hoài

Bài Làm

Tô Hoài là một ngôi sao rất sáng trong nền văn chương Việt Nam, ông sáng tác từ rất sớm và được dư luận chú ý ngay từ những tác phẩm đầu tay. Bằng sự hiểu biết sâu rộng đa dạng lĩnh vựng và vốn sống phong phú về phong tục, tập quán của đa dạng dân tộc ở phổ quát vùng miền khác nhau trên đất nước nên sáng tác của Tô Hoài thiên về biểu hiện những cảnh ngộ của đời thường. Tác phẩm của Tô Hoài luôn quyến rũ người đọc bởi lối nói chuyện hóm hỉnh, sinh động, bởi vốn từ vựng no ấm lạ thường. Năm 1996, Tô Hoài được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật. Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ sáng tác năm 1952, in trong tập Truyện Tây Bắc (1953), được tặng giải Nhất – giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955. Đây là tác phẩm mang lại đa dạng thành công cho nhà văn Tô Hoài, để lại phổ quát ấn tượng rất to trong lòng bạn đọc. Tác phẩm đặc thù lôi cuốn, quyến rũ nhờ lời văn giản dị, mộc mạc, am tường văn hóa dân tộc, và điểm then chốt là nêu bật được trị giá hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Qua ấy cũng kể lên giai đoạn đến sở hữu cách mạng, tuyến phố mở ra tự do hạnh phúc của những số mệnh đau khổ.

>>> XEM THÊM : Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ

>>> XEM THÊM : Soạn bài Chiếu cầu hiền

>>> XEM THÊM : Soạn bài Từ ấy

Tác phẩm Vợ chồng A Phủ kể về 2 cuộc đời, 2 căn số đó là Mị và A Phủ. Mị một cô gái xinh đẹp bị bắt về khiến cho con dâu trừ nợ nhà Thống lý Pá tra, cuộc đời cô tối tăm và khổ cực trong khoảng đấy. A Phủ vì dám đánh con quan A Sử khi A Sử phá cuộc chơi của đám trai làng trong ngày hội mùa xuân, trong khoảng đó A Phủ bị phạt vạ và phải khiến cho tôi tớ khong công nhà Thống lý. hai cuộc thế đau khổ gặp nhau, trong đêm mùa đông giá lạnh Mị đã cắt dây cứu A Phủ bỏ trốn, tậu tới Phiềng Sa, họ thành vợ chồng và tìm đến mang cách mạng. Câu truyện hiện lên với đầy trung thực, mộc mạc nhưng cũng lồng ghép vào đấy là tinh thân nhân đạo sâu sắc của tác giả gửi gắm.

Ngay đầu tác phẩm nhà văn Tô Hoài đã đưa một hình ảnh giản dị, chân thân nhưng lại có sức sợ hãi rất to đối mang bạn đọc. Hình ảnh “ai ở xa về, với việc vào nhà thống lý Pá Tra thường nhận ra có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tầng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa”. Hình ảnh cô gái ấy là Mị, một sở hữu gái hiện hậu, xinh đẹp, là vợ A Sử con trai Thống Lý Pá Tra. cuộc đời Mị trải qua phần lớn đau khổ khi phải sống tại ngôi nhà đấy, vô hồn trong bể khổ.

thế cuộc Mị hiện lên dần dần qua các trang văn đầy hiện thực các cũng đầy cảm xúc bằng ngòi bút tài giỏi của tác giả. Mị là 1 cô gái xinh đẹp, khỏe mạnh,nhưng vì nhà nghèo cô đã bị bắt về nhà Thống Lý Pá Tra làm vợ A Sử, kể đúng nghĩa cô phải làm cho con dâu gạt nợ. khi đầu, bằng con mắt ngây thơ, tinh khiết, bằng sự tận tình của tuổi trẻ Mị đã khuyên cha, “con biết cuốc nương, khiến cho ngô, con sẽ cuốc tương, khiến ngô trả nợ thay cha, cha đừng bán con cho nhà Thống Lý”. không những thế, chiếc xã hội ngày ấy, đồng bào dân tộc ta bị áp bức bởi bọn chúa đất ức hiếp người dân vô tội, và cho vay nặng lãi chính là mánh khoé đầy cay nghiệt, ép con người ta tới bước các con phố cùng. “Ông lão nhớ câu nhắc của thống lý dạo trước; cho con gái về nhà thống lý thì trừ được nợ. Thế là bác mẹ ăn bạc nhà giàu kiếp trước, hiện tại người ta bắt con trừ nự. không khiến thế nào khác được rồi”.Mị bị bắt khiến con dâu gạt nợ nhà Thống lý, thực sự khó thoát khỏi số kiếp khổ đau. Sự giằng buộc bởi sự thâm ác của chế độ cũ các thêm vào ấy cũng mang 1 phần của hủ tục, phong tục xưa cũ còn lưu lại, Mị còn bị buộc chặt hơn với chiếc căn số con dâu trừ nợ vì “đã trình ma” ở nhà Thống Lý sống khiến cho người của nhà Thống Lý chết cũng làm ma nhà Thống Lý Pá Tra.

Cuộc sống đấy đã khiến cho cô hình dong dòng chết “Một hôm, Mỵ trốn về nhà, 2 tròng mắt còn đỏ hoe. trông thấy bố, Mỵ quì, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mỵ cũng khóc, đoán biết lòng con gái.

Mày về chào lậy tao để mày đi chết đấy à? Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn quan lại bắt trả nợ. Mày chết rồi, ko lấy ai làm nương ngô, trả được nợ, tao thì ốm yếu quá rồi. ko được, con ơi!”. sự thật vẫn mãi là sự thật, đã xảy ra thực thụ khó mà thay đổi, Mị khổ cực tậu tới chiếc chết, một sự đánh tháo đầy tiêu cực, bế tắc. Thế nhưng cuộc đời khéo đùa giỡn, Mị không thể chết, Mị thương cha mà chẳng thể chết. Cha cô đã già, cô chết đi ông cũng sẽ đau lòng gấp bội, nhưng chết đâu phải đã hết, nợ vẫn còn đó, sự ác nghiệp vẫn còn đó, mẫu chết đấy đâu thay đổi được gì. Mị vứt nắm là ngón xuống đất, cô chỉ biết khóc, giọt nước mắt trong vô vọng. những chuỗi ngày khổ cực sẽ mãi kéo dài từ đó.

Phân tích tác phẩm vợ chồng a phủ của Tô Hoài

Phân tích tác phẩm vợ chồng a phủ của Tô Hoài

trong khoảng ấy trở đi, cuộc sống của Mị đều như người ko hồn, lầm lũi, vất vả, nói là con dâu nhà phổ thông đất, phổ quát thuốc phiện nhất vùng nhưng Mị phải cần lao như người hầu, không mang thời kì nghỉ ngơi. Năm nào cũng vậy, làm các công tác giống nhau, “tước đay, bẻ bắp”, cứ lặp đi, lặp lại tẻ nhạt, mỏi mệt. Cuộc sống của cô gái xinh đẹp ngày nào giờ chỉ 1 màu âm u. Căn phòng của Mị ko sở hữu đủ ánh sáng, nhìn ra cái ô cửa nhỏ “chỉ một màu mờ mờ trắng trắng ko rõ”, đầy tầy, vây hãm. Mị còn tự biết cuộc sống của mình còn không bằng con trâu, ko bằng con ngựa.

Cuộc sống cứ trôi đi, trôi đi, các xác ko hồn đó phải trải qua các nỗi đau khó tả, nỗi đau thể xác lúc phải làm cho việc như trâu ngựa, nhưng nỗi đau đó đâu thể bằng nỗi đau trong tim, nỗi đau của người con gái mất đi hạnh phúc, mất đi hi vẳng “Ở lâu trong mẫu khổ Mị đã quen khổ rồi”. Rồi đêm tình mùa xuân lại đến, mùa xuân, mùa của yêu thương, mùa của muôn hoa khoe sắc, trai gái hò hẹn. Tiếng sáo lay chạnh lòng người.

"Mày có con trai con gái

Mày đi nương

Ta không có con trai con gái

Ta đi tìm người yêu"

Tiếng sáo gọi bạn tha thiết, khiến cho Mị mường tưởng các ngày tháng đã qua, Mị thổi sao rất hay, thổi lá cũng hay như thổi sao, rồi chợt bừng lên bao suy nghĩ “Mị còn trẻ, Mị vẫn muốn đi chơi”. Đâu phải rằng ở lâu trong dòng khổ mà còn người mãi phải tăm tối. Mị cũng đã bùng lên một tía sáng nhỏ trong lòng, Mị như phất phới trở lại, diễn biến tâm trang nhân vật mang sự thay đổi. Nhà văn Tô Hoài đã rất khéo léo đưa các chi tiết tả thực, nhẹ nhõm nhưng sống động để biểu thị tâm lý nhân vất. “Mị đứng dậy sắn ít mỡ bỏ vào ống dầu cho sáng,…rồi lấy chiếc váy hoa…”. Trong một phút nghĩ suy cô đã muốn vượt khỏi chiếc địa lao tù, vượt ra ngoài căn phòng tăm tối để đến mang cuộc sống ngoài kia. không khí nở rộ, đêm tình đầy mong ước đúng ra Mị phải được hưởng, đã rất lâu, rất lâu Mị không được sống lại cảm giác ấy. Quả thức, ngòi bút của nhà văn đã luồn lách rất sâu vào tâm lý nhân vật của mình mới với thể lột tả cho độc giả thấy rõ được một tâm hồn đang trỗi dậy.

Trong khi Mị muốn được đánh tháo, chỉ là 1 đêm thôi, một đêm như bao người khác “người ta cũng với vợ mang chồng, người ta cũng được đi chơi, đăng này Mị và A Sử không mang lòng với nhau mà vẫn phải sống sở hữu nhau”. một suy nghĩ đầy sự kháng cự đã hiện lên, tuy nhiên trong lúc ấy Mị đã bị A Sử chặn lại. Bằng bản chất thâm nho của con quan chúa đất, hắn trói Mị vào cột, thậm chí còn cuốn tóc mị một cách dã man khiến Mị ko sao cử động được. suy nghĩ đã bị vùi tắt, nước mắt chảy xuống trong đớn đau cả về thân xác lẫn tâm hồn, phải nhắc gì đây lúc cuộc sống là vậy, khi bọn tàn bạo vẫn còn thì bao số mệnh, bao con người vẫn bị vùi lấp vào thống khổ. Mị chỉ còn nghe thấy tiếng ngựa đạp vách, ánh sáng đèn dầu bị A Sử dập tắt, còn lại chỉ 1 khe hở le lói yếu ớt. Hiện thực hiện lên dầy trần truồng, khiếu nại sự tàn ác của bọn cai trị thời đó nhưng cũng đầy thương cảm đối có nhân vật Mị.

Cũng trong đêm tình mùa xuân đấy, nhân vật A Phủ xuất hiện. một anh chàng khỏe mạnh, quả cảm đã dám đánh A Sử lúc hắn phá vỡ cuộc vui của đám trai làng tậu bạn. Vì đánh A Sử nên số mệnh của A Phủ cũng bị rơi vào nhà Thống Lý Pá Tra, cái địa ngục tù thiên hạ đã đẩy con người ta tới loại bế tắc cùng cực nghe đâu chỉ nghĩ đến dòng chết mới với thể giải thoát. Sau đêm đánh A Sử trọng thương, A Phủ bị người thân Thống Lý phạt rất nặng bị đánh bầm dập nhưng anh ko kêu lên một tiếng, diễn đạt 1 con người dũng cảm, cứng cỏi cực kỳ. A Phủ bị ngả vạ 1 trăm quan tiền, 1 trăm quan tiền chẵn. Vậy như là mòn nợ truyền kiếp này đến bao giờ mới hết “đời mày ko trả được thì đời con mày…đời cháu mày phải trả…”. Vậy là A Phủ phải ở mướn, làm công ko công cho nhà Thống Lý,nào là các công việc vất vả đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò chăn ngựa, loanh quanh năm 1 thân một mình rong ruổi ngoài gò rừng. đích thực không còn mang cái gọi là công bằng, công lý ở loại thị trấn hội ấy mà chỉ còn áp bức bóc lột. Cuộc sống của nhân dân trước cách mạng khổ đau đã hiện lên rất rõ qua 2 nhân vật Mị và A Phủ.

Và 1 lần để lỡ hổ ăn giết thịt mất bò nhà Thống Lý, A Phủ lại bị phạt nặng, anh bị người thân Thống Lý trói vào chặt vào cột bằng sợi mây siết chặt. Trong đêm mùa đông giá rét A Phủ bị đánh đập man rợ, bị bỏ đói mấy ngày lau láu, thực sự ko còn tính người, không còn coi tính mệnh con người bằng súc vật nữa. Đêm mùa đông đó, ví như như không với sự đánh tháo thì A Phủ sẽ chết, kiên cố là phải chết.

Mùa đông giá rét ở Hồng Ngài thật khiến con người ta sợ hãi, hai số mệnh gặp nhau Mị và A Phủ. hai con người bị giam chặt, kìm hãm, bị áp đặt cuộc sống, mọi thứ của cuộc thế dần như bất nghĩa. khi Mị bắt gặp anh mắt của A Phủ, khi Mị nhìn ánh lửa và mường tượng cuộc sống của bản thân mình, 1 ánh sáng trong tâm tưởng như đã hiện lên. tâm trạng nhân vật Mi như có 1 chuyển biết đầy rõ nét hơn nữa, Mị đã quyết định cắt dây cứu A Phủ. Đây là kết quả tất yếu của 1 công đoạn bị dồn nén, áp bức về tinh thần, đọa đày về thân xác, hiện nay đã đến lúc phải kết thúc. Mị cắt dây trói cứu A Phủ đổng thời cũng là tự cắt đứt sợi dây vô hình đã trói chặt cô vào quãng đời tủi hổ. Hành động nhanh nhẹn, dứt khoát cứu 1 con người như đem lại chính sự sống cho Mị và rồi Mị và A Phủ đã cùng nhau trốn đi. Họ đã chốn đến Phiếng Sa sống 1 cuộc thế mới, mở ra hạnh phúc mới và tậu đến được với ánh sáng cách mạng.

Trong trị giá hiện thực của tác phẩm đã ẩn đựng giá trị nhân đạo sâu xa. có căm thù giai cấp cai trị và phố hội bất công, tác nhái mới lên tiếng khiếu nại mạnh mẽ. mang thực sự cảm thương số phận khổ cực của con người, tác fake mới viết nên các trang văn gây xúc động mạnh mẽ tương tự.

Tính nhân đạo của tác phẩm trước tiên mô tả ở sự bênh vực và cảm thông sâu sắc sở hữu số mệnh của những con người bất hạnh như Mị và A Phủ. Ở khía cạnh này, Tô Hoài tỏ ra có sự thông suốt sâu sắc trong khoảng đời sống vật chất đến đời sống tâm lí của đồng bào những dân tộc miền núi Tây Bắc.

Thành công căn bản của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc biệt là nghệ thuật biểu hiện tâm lí nhân vật. Cả hai nhân vật Mị và A Phủ đều diễn tả 1 bí quyết sống động vả trung thực những nét riêng, nét lạ trong tính bí quyết của người Mông đề cập riêng và đồng bào miền núi khái quát. Trên hết là một lối sống mộc mạc, hồn nhiên, hào phóng, tự do. những phẩm chất này làm cho người Mông có 1 sinh lực sống dồi dào làm họ đủ sức mạnh để vượt qua bất cứ sự áp bức đè nén nào. Mị thiết kế lặng thầm, thầm lặng, nhẫn nhục nhưng bên trong sôi nổi một khát vẳng sống, khát vẳng tự do và hạnh phúc. A Phủ táo tợn, dũng mãnh mà chân chất, tự tin. Cả 2 cùng là nạn nhân của bọn chúa đất, quan lại thống trị miền núi bất nhẫn, nham hiểm. Trong con người họ tiềm tàng sự chống cự hết sức mãnh liệt.

Ngòi bút trình bày tâm lý nhân vật của nhà văn Tô Hoài chính là 1 độc đáo của tác phẩm, nhất là thể hiện tâm lý nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân để lại phổ biến sợ hãi đối sở hữu độc giả. Sự thay đổi trong tâm lý nhân vật được biểu hiện rõ nét cho thấy nhà văn là một người rất tinh tế, tài hoa, biết phổ biến, hiểu phổ thông và đầy thông cảm đối sở hữu cuộc sống của các người dân khổ đau.

Qua tác phẩm Vợ chồng A Phủ cho ta thấy cuộc sống đầy thống khổ của quần chúng ta trước cách mạng, tố cáo mạnh mẽ phố hội thời bấy giờ sự lộng quyền của bọn nhà giàu chúa đất ép con người ta đến bước tuyến phố cộng. Tác phẩm cũng đề cao giá trị con người, giá trị của sự đổi thay vùng lên chống cự, người dân đã tới có cách mệnh, mua tới có tự do, hạnh phúc. các trang văn cũng chính là ngôn ngữ khiến nổi bật lên nét tài hoa của nhà văn Tô Hoài để tăm tiếng ấy mãi đi vào lòng độc giả.

>>> XEM THÊM : Phân tích bài thơ lai tân

>>> XEM THÊM : Phân tích tác phẩm thu điếu của Nguyễn Khuyến

>>> XEM THÊM : Phân tích nhân vật tnú trong truyện ngắn rừng xà nu

Bài viết cùng chuyên mục